Việt Nam | English Tin tức Hướng dẫn Tuyển dụng Trợ giúp Câu hỏi Quy định |HRM
  Trang chủ   Sitemap   Liên hệ
Sản phẩm
Hỗ trợ trực tuyến
Sales (0241.6263.679)
Ý kiến thăm dò
Bạn quan tâm đến sản phẩm nào của chúng tôi nhất ?
Thuốc lá lá
Hoa cây cảnh
Sản phẩm nhựa
Sản phẩm nông nghiệp khác
Thống kê truy cập
Số người đang online: 9
Số lượt truy cập: 831
  Giá vàng
  Thời tiết
  Tỷ giá ngoại tệ
  Chứng khoán
  Kết quả xổ số
  Lịch phát sóng
Liên kết website
Ngành Thuốc lá Việt nam và quá trình hội nhập Kinh tế quốc tế
Tin tức
Ngành Thuốc lá Việt nam và quá trình hội nhập Kinh tế quốc tế

Nhờ công tác chuẩn bị tốt trước quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sau hai năm Việt nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ngành thuốc lá đã đạt được kết quả tăng trưởng tốt: năm 2008 tổng sản lượng toàn ngành đạt 4.293 triệu bao, nộp ngân sách đạt trên 7.500 tỷ đồng (tăng 20%) và xuất khẩu đạt trên 90 triệu USD (tăng 30%), cơ cấu chủng loại sản phẩm chuyển biến theo hướng tăng dần tỷ trọng thuốc lá trung cao cấp, giảm tỷ trọng thuốc lá phổ thông giá thấp

A. NHỮNG CAM KẾT HỘI NHẬP KINH TẾ NGÀNH THUỐC LÁ:

1. Cam kết với CEPT/AFTA (Khu vực mậu dịch tự do ASEAN):

- Các mặt hàng thuốc lá đều được cam kết để trong Danh mục loại trừ hoàn toàn (General Exclusive List - GEL): không tham gia cắt giảm thuế về mức 0-5% để tham gia tự do mậu dịch ASEAN.

2. Cam kết với Khu vực mậu dịch tự do ASEAN mở rộng: ACFTA ( ASEAN + Trung Quốc), AKFTA ( ASEAN + Hàn Quốc): các mặt hàng thuốc lá đều được đưa vào danh mục Nhạy cảm cao, có lộ trình giảm thuế chậm và mức thuế cuối cùng cao.

Năm 2006, một nội dung đàm phán quan trọng của CEPT/AFTA là rà soát (GEL). Ban Thư ký ASEAN đề nghị các nước rà soát lại triệt để các mặt hàng trong GEL, trong đó có thuốc lá. Tổng công ty Thuốc lá đã kiến nghị lên các Bộ ngành liên quan về việc tiếp tục duy trì thuốc lá trong GEL và cử người tham gia để hỗ trợ đoàn đàm phán. Đến nay, được sự ủng hộ của các Bộ ngành, sau Hội nghị Bộ Trưởng ASEAN tháng 05/2006, thuốc lá vẫn giữ được trong danh mục GEL.

Trên cơ sở giữ được ngành hàng thuốc lá trong GEL của khu vực AFTA/CEPT đã tạo thuận lợi cho đàm phán khu vực mậu dịch tự do ASEAN mở rộng. Hiện nay, Việt Nam là một thành viên của ASEAN trong các đàm phán xây dựng khu vực mậu dịch tự do ASEAN + Ấn Độ, ASEAN+ Úc và New Zealand, ASEAN + Nhật Bản…Thuốc lá điếu, nguyên liệu thuốc lá vẫn tiếp tục được Tổng công ty kiến nghị giữ trong danh mục Nhạy cảm Cao (HSL) với lộ trình giảm thuế dài.

1. Cam kết với WTO:

- Lĩnh vực thương mại: Việt Nam cam kết mở cửa thị trường thuốc lá điếu nhập khẩu, sau 16 năm thi hành cấm nhập khẩu thuốc lá điếu/xì gà (Chỉ thị 278/CT của Hội đồng Bộ trưởng năm 1990). Đối với nhập khầu thuốc lá điếu được áp dụng cơ chế thương mại nhà nước, doanh nghiệp nhập khẩu là Tổngcông ty Thuốc lá Việt nam; nguyên liệu thuốc lá sẽ áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan.

- Trong lĩnh vực đầu tư, Việt Nam cam kết loại bỏ ngay các biện pháp hạn chế đầu tư có liên quan đến thương mại (TRIMS).

- Các mặt hàng thuốc lá tiếp tục thực hiện cắt giảm thuế hằng năm theo cam kết với WTO với mức thuế cuối cùng của xì gà là 100% vào 2012 và của thuốc điếu là 130% vào 2010.

1. Tham gia Công Ước Khung về Kiểm soát Thuốc lá ( FCTC)

Ngành thuốc lá trên toàn cầu hiện nay đang phải đương đầu với sức ép ngày càng tăng từ môi trường xã hội, dư luận về các tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ con người, đặc biệt sức ép từ các phong trào xã hội của các quốc gia và chương trình phòng chống thuốc lá của tổ chức Y tế thế giới. Tháng 5/2003, Tổ chức Y tế thế giới đã ban hành Công ước Khung về Kiểm soát thuốc lá (Framework Convention On Tobacco Control - FCTC), có hiệu lực ngay trong năm 2005 sau khi được 40 nước phê chuẩn (Việt Nam đã tham gia ký kết và phê chuẩn Công Ước tháng 12/2004). Mục tiêu của FCTC là nhằm tạo ra những khuôn khổ cho việc hợp nhất những biện pháp kiểm soát thuốc lá của các quốc gia tham gia Công Ước nhằm giảm thiểu một cách liên tục và mạnh mẽ việc sử dụng thuốc lá để hạn chế các hậu quả về xã hội, kinh tế và môi trường của việc tiêu dùng thuốc lá.Trong xu thế chung đó, ngành thuốc lá Việt Nam cũng đang đứng trước sức ép của xã hội về vấn đề tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ con người.

Năm 2004, Việt nam đã phê chuẩn thực hiện FCTC theo đó: sẽ áp dụng các biện pháp liên quan đến làm giảm bớt nhu cầu thuốc lá, trên quan điểm cho rằng giá cả và các biện pháp thuế là một phương tiện có hiệu quả và quan trọng để làm giảm bớt sự tiêu thụ thuốc lá bởi nhiều tầng lớp dân số khác nhau, cụ thể là giới thanh niên trẻ ( Thuế TTĐB đánh vào thuốc lá điếu đã tăng từ 55% lên 65% từ năm 2006- 2008), gia tăng các biện pháp kiểm soát chặt chẽ ngành thuốc lá để kiểm sáot nguồn cung cấp thuốc lá.

Điều 11 Công ước khung cũng quy định cảnh báo sức khỏe sẽ là một loạt luân phiên các thông điệp lớn, rõ ràng, có thể nhìn thấy, và dễ đọc chiếm lý tưởng 50% hoặc hơn, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào không ít hơn 30%, diện tích mặt chính của của mỗi bao thuốc hoặc bao bì. Các cảnh báo về sức khỏe có thể bằng hình thức, hoặc bao gồm, tranh ảnh hoặc lối chữ hình vẽ.

Ngoài ra, một số nội dung phòng chống tác hại thuốc lá ở Việt Nam đã thực hiện ở mức cao hơn so với FCTC: như việc cấm toàn diện quảng cáo thuốc lá: theo FCTC sẽ áp dụng 5 năm sau khi Công ước được phê chuẩn (2009), tuy nhiên, Việt Nam đã ban hành lệnh cấm từ trước khi ký Công ước.

B. NHỮNG BƯỚC CHUYỂN BIẾN TRONG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SXKD NGÀNH THUỐC LÁ ĐỂ TRIỂN KHAI CÁC CAM KẾT TRONG THỜI KÝ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ:

Để thực hiện các cam kết trên, Chính phủ Việt nam đã tiến hành giải pháp hoàn thiện khung pháp lý, nghiên cứu sửa đổi các quy định pháp luật có liên quan theo nguyên tắc: Đảm bảo khả năng cạnh tranh của ngành thuốc lá Việt nam, Nhà nước có thể kiểm soát được sản xuất, tiêu thụ thuốc lá và thực hiện được các cam kết của Việt nam khi hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể:

- Sửa đổi chính sách thuế (đưa về một mức thuế tiêu thụ đặc biệt - TTĐB): Thuế TTĐB trước đây đánh vào thuốc lá điếu có 3 mức: 25% - 45% và 65% dựa trên tiêu chí tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu sử dụng để sản xuất ra sản phẩm. Năm 2006, thuế TTĐB được sửa đổi về một mức 55%. Năm 2008, mức thuế suất nâng lên 65%, áp dụng cho tất cả các loại thuốc lá điếu.

- Ban hành Chỉ thị 12/2007/CT – TTg ngày 10/5/2007 về việc “ Tăng cường các hoạt động phòng chống tác hại thuốc lá”: trong đó bổ sung các quy định cụ thể và chặt chẽ để tăng cường thực thi các quy định cấm hút thuốc lá nơi làm việc và công cộng, tăng cường các hoạt động kiểm soát kinh doanh các sản phẩm thuốc lá, tăng cường thực hiện các quy định cấm quảng cáo, khuyến mãi tiếp thị tài trợ thuốc lá…

-Quyết định phê duyệt chiến lược tổng thể ngành thuốc lá Việt nam đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020 với quan điểm: Thực hiện đối mới cơ chế quản lý ngành thuốc lá phù hợp với cam kết WTO, từng bước thực hiện Công ước khung về kiểm soát thuốc lá; Hợp tác quốc tế trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc chung của hội nhập kinh tế quốc tế và các cam kết quốc tế của Việt nam.

- Nghị định 119/2007/NĐ-CP về sản xuất và kinh doanh thuốc lá thay thế Nghị định 76 (từ năm 2001), tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư, kinh doanh thuốc lá trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, theo đó:

+ Việc ghi nhãn trên bao bì sản phẩm thuốc lá phải tuân thủ theo quy định hiện hành của pháp luật. Từ ngày 01 tháng 4 năm 2008 áp dụng in lời cảnh báo về tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ bằng chữ đen trên nền trắng, chiếm 30% diện tích vỏ bao thuốc lá với một trong các nội dung: "hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi"; "hút thuốc lá có thể gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính". Quy định in lời cảnh báo về tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ trên vỏ bao thuốc lá thực hiện có lộ trình theo Công ước khung về kiểm soát thuốc lá (FCTC), phù hợp với tình hình chung của thế giới và đặc điểm Việt Nam (Điều 19);

+ Nếu nghị định 76/CP không cho phép đầu tư mới, thành lập các liên doanh nước ngoài trong lĩnh vực thuốc lá thì 119/CP mở ra điều kiện đầu tư trong các điều kiện ràng buộc chặt chẽ, vẫn đảm bảo quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuốc lá và chính sách quốc gia về phòng chống tác hại thuốc lá cụ thể: Đầu tư sản xuất sản phẩm thuốc lá phải phù hợp với Chiến lược, Quy hoạch tổng thể ngành thuốc lá được phê duyệt; Không đầu tư xây mới, đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao công suất của các cơ sở sản xuất sản phẩm thuốc lá để tiêu thụ trong nước vượt quá tổng năng lực sản xuất sản phẩm thuốc lá được Bộ Công nghiệp xác định (tại thời điểm ban hành Nghị quyết 12/2000/NQ-CP)…(Điều 23).

+ Sửa đổi bổ sung các quy định về nhập khẩu và kinh doanh các sản phẩm thuốc lá nhập khẩu, điều bị cấm tại NĐ 76/CP như sau: Việc nhập khẩu sản phẩm thuốc lá với mục đích thương mại phải tuân thủ các nguyên tắc sau:a) Thực hiện thương mại nhà nước trong nhập khẩu sản phẩm thuốc lá; b) Sản phẩm thuốc lá nhập khẩu phải được dán tem thuốc lá nhập khẩu do Bộ Tài chính phát hành; c) Sản phẩm thuốc lá nhập khẩu phải tuân thủ các yêu cầu quản lý được quy định tại Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan như đối với sản phẩm thuốc lá sản xuất trong nước. (Điều 28).

C. NHỮNG THÁCH THỨC VÀ LỢI THẾ CỦA NGÀNH THUỐC LÁ TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ:

I. Thách thức:

1. Áp lực cạnh tranh ngay trên sân nhà:

- Với việc WTO đòi hỏi các n­ước phải mở cửa thị trư­ờng như­ là một trong những điều kiện để các n­ước gia nhập WTO. Các công ty thuốc lá đa quốc gia với thị tr­ường thế giới rộng lớn sẽ tiếp tục khuynh đảo thị trư­ờng thuốc lá các nước. Các công ty thuốc lá quốc gia với năng lực hạn chế vẫn bị yếu thế trong việc cạnh tranh trên thị tr­ường, đặc biệt là trong phân khúc thuốc lá cao cấp. Những n­ước đã mở cửa thị tr­ường như­ Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc và các nư­ớc Đông Âu đều trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau. Những n­ước có sức mạnh nội lực thực sự như­ Nhật, Hàn Quốc và đều giữ vững được thị trư­ờng của mình. Thái Lan sau vài năm mở cửa cho thuốc lá ngoại, Tổng Công Ty Độc quyền Thuốc lá Thái Lan (TTM) mất gần 50% thị phần. Các n­ước Đông Âu thì hầu như­ bỏ ngỏ cho các công ty thuốc lá đa quốc gia khi các công ty này mua lại hầu hết các công ty thuốc lá trư­ớc đây thuộc nhà n­ước quản. Đây là một kinh nghiệm rất đắt cho Việt Nam khi mở cửa thị trường thuốc lá nhập khẩu. Thuốc lá ngoại nhập khẩu chính thức tham gia thị trường nội địa hình thành tâm lý tiêu dùng thuốc lá ngoại mở đường cho thuốc lá ngoại nhập lậu tràn vào thị trường cũng là một nguy cơ tiềm ẩn thách thức các nhãn hiệu thuốc lá sản xuất trong nước.

- Việc mở cửa thị trường nhập khẩu đồng nghĩa với việc tạo thêm áp lực cạnh tranh giữa thuốc lá nội địa và thuốc lá nhập khẩu.

- Áp lực rà soát danh mục GEL của AFTA/CEPT vẫn liên tục đặt ra. Nếu không bảo vệ được các mặt hàng thuốc lá trong GEL, có nghĩa là thuốc lá sẽ được tự do mậu dịch giữa Việt Nam và ASEAN với mức thuế 0-5%. Đây thực sự là một nguy cơ đối với sự tồn tại và phát triển của ngành thuốc lá nội địa vì là hiệp định khu vực, có giá trị ưu tiên cao hơn các hiệp định đa phương quốc tế (như WTO), vì thuốc lá nhập lậu không phải từ đâu xa mà ngay từ các nước trong khu vực ASEAN ở cạnh Việt Nam tràn sang như : Campuchia, Indonesia, Philipines, Lào… Nêu được tự do mậu dịch thì lượng thuốc lá này không còn là thuốc lá lậu mà chính thức được tự do tràn vào thị trường Việt Nam với mức thuế nhập khẩu bằng 0%.

2.Áp lực cạnh tranh trên các thị trường xuất khẩu:

-FCTC đã được công nhận và phê chuẩn trên hầu hết các nước trên thế giới cùng với hàng loạt các chính sách siết chặt việc nhập khẩu và hạn chế tiêu dùng thuốc lá. Đây cũng là hàng rào bảo hộ vô hình mà chính phủ các nước sử dụng để bảo hộ ngành sản xuất thuốc lá nội địa và ngăn cản nhập khẩu.

- Năng lực cạnh tranh xuất khẩu còn yếu kém: chất lượng hàng xuất khẩu còn thấp, giá trị gia tăng thấp. Hiệu quả xuất khẩu còn chưa cao. Mẫu mã quy cách bao bì sản phẩm còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đa dạng hóa sản phẩm và chất lượng ngày càng cao của thị trường nước ngoài. Thuốc lá xuất khẩu của Việt Nam gặp phải cạnh tranh gay gắt của thuốc lá Trung quốc, Thai Lan… trên các thị trường xuất khẩu.

II. Lợi thế:

- Cùng với các cam kết giảm thuế của Việt Nam trong HNKTQT, ngành thuốc lá được hưởng lợi từ việc giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng phụ liệu, vì phần lớn phụ liệu sản xuất thuốc lá phải nhập khẩu.

- Cùng với việc nới lỏng điều kiện đầu tư, liên doanh hợp tác nước ngoài, ngành thuốc lá có điều kiện tiếp cận với công nghệ sản xuất và trình độ quản lý cao của nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư thuốc lá.

- Được áp dụng mức thuế MFN đối với các mặt hàng xuất khẩu với tư cách là thành viên WTO. Xuất khẩu thuốc lá liên tục tăng trưởng trong 5 năm trợ lại đây với sự gia tăng hàng năm sản lượng thuốc lá mang nhãn hiệu Việt Nam chứng tỏ sự gia tăng hội nhập và chia sẽ thị trường xuất khẩu thuốc lá quốc tế của Tổng công ty .

D. MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Sau hai năm Việt nam gia nhập WTO, ngành thuốc lá đã đạt được những kết quả tăng trưởng tốt, thể hiện qua các chỉ tiêu như nộp ngân sách đạt trên 7.500 tỷ đồng (tăng 20%) và xuất khẩu đạt trên 90 triệu USD (tăng 30%), cơ cấu chủng loại sản phẩm chuyển biến theo hướng tăng dần tỷ trọng thuốc lá trung cao cấp, giảm tỷ trọng thuốc lá phổ thông giá thấp. Tuy nhiên đứng trước thách thức và qua kinh nghiệm của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các doanh nghiệp trong ngành thuốc lá cần tập trung vào các giải pháp:

1. Nhanh chóng chiếm lĩnh, làm chủ thị trường trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, xây dựng và phát triển thương hiệu một cách vững chắc, tạo một tâm lý tiêu dùng ổn định đối với các sản phẩm sản xuất trong nước trước thách thức của thuốc lá ngoại nhập lậu. Cụ thể, doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng và thực hiện lộ trình giảm Tar- Nicotin, xây dựng hệ thống phân phối hoàn chỉnh để đẩy mạnh tiêu thụ các chủng loại sản phẩm từ nhãn quốc tế hợp tác đến các sản phẩm trung cấp và các sản phẩm phổ thông, đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng. Thống nhất được giá bán tối thiểu của sản phẩm thuốc lá nhằm thực hiện mục tiêu tăng các khoản nộp cho ngân sách và thực hiện nội dung cam kết tại FCTC về giá bán sản phẩm.

2. Đầu tư phát triển vùng nguyên liệu theo đúng quy hoạch để đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định, phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu; theo đó cần lựa chọn giống, áp dụng kỹ thuật canh tác và có chính sách khuyến nông tốt để xây dựng vùng chuyên canh trồng cây thuốc lá, đặc biệt chú trọng những vùng trồng thuốc lá có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu sản xuất của những sản phẩm trung, cao cấp; Đầu tư thích đáng cho việc xử lý và chế biến nguyên liệu để có nguyên liệu chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu giảm Tar-Nicotin theo cam kết của FCTC và yêu cầu khắt khe của những thị trường nhập khẩu thuốc lá điếu chất lượng cao.

3.Xây dựng và phát triển một cách bền vững thị trường cho thuốc lá xuất khẩu

Hội nhập là điều kiện tốt để mở rộng và phát triển thị trường xuất khẩu. Trong hai năm qua, ngành thuốc lá đã tận dụng tốt cơ hội này để nâng kim ngạch xuất khẩu đạt tới 90 triệu USD, tuy vậy năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu còn yếu, chất lượng hàng xuất khẩu chưa cao, giá trị gia tăng thấp, dovậy cần chú trọng xây dựng thương hiệu thuốc lá điếu xuất khẩu (kể cả những nhãn quốc tế được sản xuất tại Việt nam) để đảm bảo gia tăng giá trị sản phẩm và hiệu quả của công tác xuất khẩu.

4. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng và đóng góp tích cực trong công tác chống thuốc lá ngoại nhập lậu

Với một số lượng lớn thuốc lá ngoại nhập lậu như hiện nay đang là một thách thức không nhỏ đối với ngành sản xuất thuốc lá trong nước. Hiệp hội Thuốc lá Việt nam đã phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc triển khai các giải pháp nhằm chống thuốc lá ngoại nhập lậu một cách có hiệu quả. Các doanh nghiệp trong ngành thuốc lá cần có ý thức cao hơn nữa trong việc phối hợp và đóng góp chi phí cho công tác chống thuốc lá ngoại nhập lậu để duy trì và phát triển sản xuất trong nước.

***

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã cho chúng ta thấy rõ hơn năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp và của toàn ngành, biết tận dụng những lợi thế để giảm bớt rủi ro do thách thức của hội nhập. Ngành thuốc lá Việt nam sẽ vươn lên lớn mạnh làm chủ thị trường trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu tăng nguồn thu ngoại tế góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy lùi suy thoái, tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động, góp phần ổn định an sinh xã hội, trở thành một ngành kinh tế có vai trò lớn trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách quốc gia.
Theo Vinataba

 

Ý kiến hản hồi
     
   
Email :
 
Nội dung :
 
Mã xác nhận
 
   
 

Tin khác
1. Hội nghị tổng kết công tác nguyên liệu năm 2009 và kế hoạch năm 2010
2. Lễ bế giảng chương trình đào tạo “Kỹ năng lãnh đạo và điều hành hiệu quả” cho cán bộ lãnh đạo cấp trung
3. 116 nông dân về tham dự Ngày tri ân nông dân tại Công ty Cổ phần Ngân Sơn
4. Khẳng định thương hiệu: Ngân Sơn
5. Công ty Cổ phần Ngân Sơn tổ chức thành công phiên họp Đại hội đồng cổ đông thường niên 2009
6. Công ty Cổ phần Ngân Sơn thực hiện xuất sắc công tác vệ sinh an toàn lao động và phòng chống cháy nổ năm 2008
7. Xây dựng thương hiệu từ trong khó khăn
8. Khai giảng lớp học dạy nghề trồng thuốc lá
9. Hội đồng Quản trị tổ chức phiên họp thường kỳ quý I/2009
10. Ðầu tư phát triển vùng nguyên liệu góp phần xóa đói, giảm nghèo
 
   Video
   Thông tin tài chính
  DS cổ đông nhà nước, cổ đông lớn
  Nghị Quyết 145 HĐQT 2016
  NQ xin phê duyệt KHSXKD 2017
  NQ - Qui chế hoạt động HDQT
  NQ 405 15/08/2016
  Nghị quyết 80 HĐQT 2017
  BCTC 2016 (R)
  Thông báo ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu đăng ký giao dịch bổ sung 2016
  Nghị Quyết 595 HĐQT 2016
  NQ 913 Thoái vốn Vinawa
  Báo cáo TC năm 2015 (R)
  NQ 238 phiên họp thường kỳ 9/7/2016
  BCTC Q4 2016
  BC Quản Trị 6 tháng 2016
  Nghị Quyết ĐHĐ CĐ 2016
   Tin tức
  Nội bộ
  Tin liên quan
  Hợp tác
  Đoàn thể
  Thông báo
  Ứng dụng
  Văn bản
   Tin nổi bật
 Thứ trưởng Bộ Công thương thăm và làm việc tại Công ty Cổ phần Ngân Sơn
 Thông báo họp Đại hội đồng cổ đông thường niên 2016
 Hội nghị đại biểu người lao động 2016 Công ty cổ phần Ngân Sơn; Đoàn kết - Dân chủ và Trách nhiệm
 Công ty Cổ phần Ngân Sơn tổ chức Đại hội Đảng lần thứ V, nhiệm kỳ 2015-2020
 Bắc Kạn: Sơ kết 3 năm phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá
 Công ty Cổ phần Ngân Sơn tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập và đón nhận các phần thưởng cao quý của Nhà nước và Chính phủ
 Xung lực mới cho phát triển
 Lễ khánh thành Dây chuyền đồng bộ sơ chế tách cọng nguyên liêu thuốc lá công suất 24.000 tấn/năm
 Nâng cao vị thế bằng thực hiện trách nhiệm xã hội
 Công ty Cổ phần Ngân Sơn – Đầu tư toàn diện
   Góc giải trí
Thuốc lá thuốc lào
Chàng ngốc nói chữ
Lời nguyền
Mày để cho nó một chút
   Đối tác

Copyright © 2006 - Ngan Son Joint Stock Company
Office: Tien Son Industry Zone, Bac Ninh Pro * Tel: 84241.6263679 Fax: 84241.6263686
http://muathu7.vn http://igf.com.vn